Một số công trình của các nhiếp ảnh gia đoạt giải Hasselblad trong lịch sử

0
44
Nobel Nhiếp ảnh – giải Hasselblad lần đầu tiên được trao vào thứ Ba ngày 18/11/1980. Người nhận giải danh giá này là chính là cụ Lennart Nilsson – người Stockholm Thụy Điển. Cả thế giới đều biết đến cụ với biệt danh “nhà nhiếp ảnh của cõi u minh”. Tại Viện Karolinska (Stockholm, Thụy Điển), bên cạnh những nhà bác học lặng lẽ, nhiếp ảnh gia 83 tuổi Lennart Nilsson mê mải chụp ảnh những vật thể sống không thể nhìn thấy được trong những điều kiện bình thường. Đó là một đam mê, một sự cống hiến và một biệt tài cả thế giới cúi đầu khâm phục.

Lennart Nilsson: 1980

Một số công trình của các nhiếp ảnh gia đoạt giải Hasselblad trong lịch sử

Lennart Nilsson

Trong lần trao giải này, người trao giải chính là ông chủ tịch của trung tâm Hasselblad với giải thưởng là 100 ngàn SEK (đồng Thụy Điển). Nếu tóm tắt cuộc trao – nhận giải cao quý này trong những ngày trọng đại, người ta sẽ nói: “Lennart Nilsson là một trong những nhiếp ảnh gia nổi tiếng lâu năm của Thụy Điển, trước khi ông là một nhiếp ảnh gia khoa học. Công việc của ngài luôn hướng đến rất cơ bản: thiên nhiên và cơ thể con người. Để vượt qua những giới hạn của mắt người đối với huyền nhiệm thân thể con người, Lennart Nilsson đã tiếp cận với môi trường làm việc bằng kính hiển vi và các loại đèn nội soi. Ngài đã diễn tả một con người phát triển như thế nào, những hiểm nguy khủng khiếp đối với sự sống mà ngài thấy được, những hiện tượng virus và bệnh ung thư. Ngài đã cho thấy một sự kết hợp hài hòa và hữu hiệu giữa nghệ thuật với kiến thức sinh học cùng kỹ năng kỹ thuật.

Khi sự sống được hình thành:

Một số công trình của các nhiếp ảnh gia đoạt giải Hasselblad trong lịch sử

1. Trứng và tinh trùng: Cuộc hội ngộ.

2. Trứng thụ tinh: Mấy giờ sau khi trứng và tinh trùng hội ngộ, trứng bắt đầu phân hóa và di chuyển về hướng tử cung nhờ hàng triệu cái lông làm “dầm” bơi. Đó là lúc khởi đầu của tất cả!

3. Thai nhi 16 tuần tuổi: Dài đến 16cm, xương chân của thai nhi màu tối, chụp xuyên qua da. Phần còn lại ở dạng sụn.

Một số công trình của các nhiếp ảnh gia đoạt giải Hasselblad trong lịch sử

4. Thai nhi 25 tuần: Dài 43cm, móng đã thành hình, mí mắt và phổi đã phát triển nhưng chưa trưởng thành. Lá nhau còn chưa phát huy công dụng.

5. Thai nhi 20 tuần: Dài 30cm, bằng nửa em bé mới ra đời. Da mỏng và nhăn nheo. Móng, chân mày và lông mi đã mọc. Mi mắt chưa mở.

6. oestrogène: Chất kích dục phụ nữ, dưới dạng tinh thể.

7. Testostérone: Tinh thể kích dục của đàn ông.

 Khi sự sống bị đe dọa:

 Một số công trình của các nhiếp ảnh gia đoạt giải Hasselblad trong lịch sử

1. H5N1: Con virus cúm gia cầm màu xanh đang phá hủy một tế bào phổi (màu hồng). Giai đoạn kế tiếp của nó là cấy phân tử ARN của mình vào trong tế bào.

2. Virus đậu mùa: Con virus màu xanh bám trên mặt tế bào đã bị tê liệt. Được diệt trừ tận gốc trên khắp thế giới bằng cách chích ngừa, một trong sáu căn bệnh truyền nhiễm giết chết nhiều người nhất.

3. Ung thư: Một tế bào nước tiểu (màu vàng) tiếp cận với tế bào ung thư. Cái hôn của tử thần.

Đây là con virus cúm gia cầm H5N1 đang cấy phân tử ARN của nó vào một tế bào phổi con người, bức ảnh H5N1 ba chiều đầu tiên trên thế giới. Phải dùng phương pháp “cracking” phá vỡ con virus đông lạnh trong nitơ lỏng, rồi quan sát nó bằng kính hiển vi điện tử cực mạnh để có được bức ảnh này.

Để có thể có được những virus cực độc như HIV, SARS, H5N1 và đậu mùa, Lennart Nilsson đã làm việc với những con virus bị tê liệt, được sử dụng trong nghiên cứu văcxin khi cộng tác với các nhà bác học nổi tiếng nhất thế giới. Ảnh virus HIV được chụp năm 1984 với giáo sư Luc Montagnier của Viện Pasteur. Còn virus đậu mùa là cộng tác với giáo sư Britta Wharen, thuộc Viện Karolinska.

Virus cúm gia cầm lần đầu tiên được Lennart Nilsson công bố

Một số công trình của các nhiếp ảnh gia đoạt giải Hasselblad trong lịch sử

Tế bào gốc được bác sĩ Anders Haegerstrand, thuộc Công ty Neuronova (Thụy Điển) cung cấp bằng cách trích lấy tế bào óc của các bệnh nhân tình nguyện, lúc hút chất lỏng trong não hay trị bệnh động kinh.

Công cụ của Lennart Nilsson là máy ảnh và các kính hiển vi điện tử tối hiện đại. Từ 30 năm qua, ông hợp tác chặt chẽ với các công ty Nhật Bản và Đức, để đặt hàng các loại kính hiển vi, nội soi và những vật kính loại mới nhất.

Tạp chí Life năm 1965 đưa bức ảnh thai nhi đầu tiên do Lennart Nilsson chụp (năm 1953) lên bìa đã làm ông nổi tiếng khắp thế giới. 8 triệu bản Life được bán sạch nhờ bức ảnh này cùng bài viết “Sự sống trước khi chào đời”.

Trong tất cả tác phẩm của mình, Lennart Nilsson ưng ý nhất là hình ảnh cái trứng phân đôi lần đầu tiên trước khi chui vào tử cung. Đó là khởi điểm của mọi sự sống.

Lennart Nilsson, 83 tuổi, là một nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu Karolinska đặt tại Stockholm, Thụy Điển. Ông từng nổi tiếng với bức ảnh chụp về sự thụ thai của một con người, được công bố trong cuốn sách “Một con người được sinh ra” (A Child Is Born), phát hành năm 1965.

Ansel Adams: 1981

Một số công trình của các nhiếp ảnh gia đoạt giải Hasselblad trong lịch sử

Ansel Adams

Giải thưởng Hasselblad lần thứ 2 được trao vào Thứ Tư ngày 18 tháng 11 năm 1981 và người đã đoạt được giải thưởng này là nhiếp ảnh gia Ansel Adams, người Mỹ. Adams được trao giải thưởng này vì những đóng góp to lớn cho nền nhiếp ảnh thế giới. Ông đã sáng tạo và phát triển những phương pháp – kĩ thuật thu hình một cách rất khoa học mà ngày nay ta không khỏi liên tưởng đến ông mỗi khi nhắc tới những kĩ thuật thu hình đó, như hệ thống vùng (zone system) trong nhiếp ảnh chẳng hạn…

Vào thời của ông, việc học về nhiếp ảnh không hề đơn giản như trong thời hiện đại ngày nay. Thời đó, để học nhiếp ảnh, và nhất là những kĩ thuật phòng tối, ông Ansel Adams đã phải làm việc (bán thời gian) ở một studio như là một “chú khỉ lon ton trong phòng tối” (“dark-room monkey”). Ông làm việc như một nhân viên chạy hàng, ông lấy đơn đặt hàng cho chủ, làm những việc lặt vặt khác nhưng hơn hết vẫn là “được” giúp việc trong phòng tối để ông có thể tìm tòi những kỹ thuật về nhiếp ảnh. Để rút ra được một kết luận cho một phương pháp thu hìnhhay in ảnh, hoặc để hiểu sự ảnh hưởng của giấy ảnh trên một bản in, ông Ansel Adams có lẽ đã tốn rất nhiều thời gian, sức lực, phim, và giấy ảnh cho công việc nghiên cứu của mình.

Một số công trình của các nhiếp ảnh gia đoạt giải Hasselblad trong lịch sử

The Tetons and the Snake River (1942)

Ông Ansel Adams sinh ngày 2/20/1902 tại San Francisco, California. Vào năm ông 14 tuổi, khi cả gia đình ông đi thăm Yosemite, 3 tháng trước khi nơi này trở thành Công Viên Quốc Gia, ông được bố mẹ ông tặng cho cái máy ảnh đầu tiên, hiệu Kodak Box Brownie. Với cái máy ảnh này, ông đã chụp những bức ảnh đầu đời những khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ tại Yosemite. Mặc dù ưa thích chụp hình, nhưng ông không phát triển khả năng thiên phú đó như là một nghề nghiệp mưu sinh khi ông trưởng thành.

Lớn lên, khi ông còn trẻ, ông cứ đinh ninh rằng âm nhạc mới thực sự là lẽ sống đời ông. Vì vậy, ông đã học và chơi piano một cách rất điêu luyện và rất chuyên nghiệp cho đến khi ông gặp Albert Bender, một nhà mạnh thường quân trong lãnh vực nghệ thuật. Sau khi ông Albert Bender giới thiệu một cách thành công bộ sưu tập đầu tiên của Ansel Adams về những hình ảnh thu thập được tại vùng rừng núi Sierra Nevada (Pamelian Prints Of High Sierras,) Ansel Adams cảm thấy nhiếp ảnh thực sự mới là mục đích của đời ông. Đối với ông, nhiếp ảnh không những là phương tiện cho những hoạt động bảo tồn thiên nhiên mà ông tham gia từ năm ông 17 tuổi, mà còn là một bộ môn nghệ thuật đặc thù.

Một số công trình của các nhiếp ảnh gia đoạt giải Hasselblad trong lịch sử

Evening, McDonald Lake, Glacier National Park (1942)

Có lẽ vậy cho nên vào năm 1931, ông cùng các nhà nhiếp ảnh danh tiếng khác, chẳng hạn như Edward Weston, Willard Van Dyke, John Paul Edwards, Imogen Cummingham, Henry Swift, và Sonya Noskowiak, đã thành lập nhóm f/64 để tuyên dương và phát triển bộ môn nhiếp ảnh như là một bộ môn nghệ thuật riêng biệt, chống đối lại những quan niệm dùng nhiếp ảnh như một phương tiện được dùng dưới lăng kính của các trường phái nghệ thuật khác, chẳng hạn như trường phái lập thể (cubism) trong hội họa, một trường phái rất được ưa chuộng và rất thịnh hành thời bấy giờ.

Xét 1 cách tổng quát, sự chuyển biến trong các tác phẩm của Ansel Adams được chia thành 2 giai đoạn, giai đoạn tiền Paul Strand và hậu Paul Strand. Trong thời kì tiền Paul Strand, các hình ảnh mà Ansel Adams thu thập được thường thường được “nhuận sắc” (manipulate) bằng những kĩ thuật phòng tối, trong đó bao gồm những kĩ thuật thật giản dị như dodging hay burning (*)chẳng hạn. Sau khi “gặp” Paul Strand và được xem các tác phẩm của ông này vào những năm đầu trong thập niên 1930, Ansel Adams thay đổi “văn phong.” Các tác phẩm của ông không còn được “nhuận sắc” như trước nữa, thay vào đó, ông cổ suý cho kiểu nhiếp ảnh thực tế (straight photography), thực tế ra sao thì hình cũng như vậy.

Một số công trình của các nhiếp ảnh gia đoạt giải Hasselblad trong lịch sử

Church, Taos Pueblo (1942)

Thời gian sau này, nhờ những kiểu hình thực tế thu thập được ở Công Viên Quốc Gia Yosemite, Sierra Nevada, Kings Canyon, etc., ông đã thực sự gây nhiều ấn tượng với Alfred Stieglitz, một nhà thương mại nghệ thuật (art dealer,) một nhiếp ảnh gia có tiếng tăm, chồng của nữ họa sĩ Georgia O’Keefe, và đồng thời là chủ nhân của phòng triển lãm An American Place ở New York.

Chuyện kể rằng, khi Ansel Adams đưa Alfred Stieglitz xem lần đầu tiên một số hình ảnh mới thu thập được của ông ở vùng rừng núi Sierra Nevada, Yosemite, và các vùng phụ cận, Ansel Adams đề nghị xin được triển lãm những hình ảnh đó ở một phòng trưng bày nào đó ở gallery An American Place, chung với các tác phẩm (hội họa) chọn lọc của các nghệ sĩ khác. Sau khi thưởng lãm xong các tác phẩm của Ansel Adams, ông Alfred Stieglitz liền đề nghị rằng ông Ansel Adams nên lựa các tác phẩm khác, hợp chung với những tác phẩm này để làm thành một bộ lớn hơn và thực hiện một triển lãm của riêng ông tại An American Place.

Từ đó, với sự hợp tác của Alfred Stieglitz, danh tiếng của Ansel Adams nổi như cồn, được các nhà nghệ sĩ thời đó biết đến một cách sâu rộng và trở thành một biểu tượng trong bộ môn nhiếp ảnh nghệ thuật. Gần cuối đời, vào năm 1980, ông được tổng thống Jimmy Carter trao tặng huân chương Presidential Medal Of Freedom, một huân chương cao quý nhất mà một người dân thường có thể nhận được.

Ansel Adams qua đời vào năm 1984. Vào năm 1985, vùng Minerat Wilderness được đổi tên lại thành Ansel Adams Wilderness để tôn vinh ông. Người ta cũng đặt tên ông cho một ngọn núi trong dãy Sierra Nevada, ngọn Ansel Adams, cao 3580m, để tưởng nhớ tới ông, người đã cống hiến cả đời mình, dùng niềm đam mê của mình để tôn vinh nghệ thuật, cũng như để bảo vệ nguồn sinh thái của nơi đã hiến dâng cho ông cái nghệ thuật đó.

(còn nữa)

Chú thích:

* Burning và dodging là 2 kỹ thuật phòng tối dùng kết hợp. Burning là cho thêm ánh sáng vào một khu vực của bức hình và dodging là che đi chỗ không muốn thêm ánh sáng.

Theo levuongthinh (cbs.com.vn)

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here